Pages

Thứ Sáu, 12 tháng 4, 2013

Triệu chứng của viêm tụy

Đau là triệu chứng thường gặp nhất của viêm tụy cấp. Hầu như người nào bị viêm tụy cấp cũng đều có triệu chứng này.


Những triệu chứng của viêm tụy cấpdieu tri viem tuy cap


Đau là triệu chứng thường gặp nhất của viêm tụy cấp. Hầu như người nào bị viêm tụy cấp cũng đều có triệu chứng này.


- Đau có thể xuất hiện đột ngột hoặc từ từ tăng dần. Nếu đau xuất hiện đột ngột, đó là một dấu hiệu thường gặp trong cách trường hợp nặng. Nếu đau diễn tiến từ từ, bệnh có thể khởi đầu nhẹ nhưng cũng có thể trở nên nặng.


- Đau thường tập trung ở nửa bụng trên hoặc vùng bụng trên bên trái. Đau có thể lan ra sau lưng


- Đau thường kéo dài trong vài ngày.


- Đau thường xuất hiện hoặc nặng hơn khi ăn.


- Đau tăng lên khi nằm ngửa.


Những người bị viêm tụy cấp có thể cảm thấy mệt mỏi. Bên cạnh triệu chứng đau, bệnh nhân còn có thể có những triệu chứng khác như:


- Buồn nôn (một số người có thể nôn ra ngoài nhưng sau đó vẫn không làm giảm cảm giác buồn nôn)


- Sốt , ớn lạnh, hoặc cả hai.


- Bụng chướng và nhạy cảm khi chạm.


- Nhịp tim nhanh (có thể do đau hoặc sốt, cũng có thể do phản xạ bù trừ khi bệnh nhân bị xuất huyết nội).


Trong những trường hợp nặng có nhiễm trùng hoặc chảy máu, bệnh nhân có thể bị mất nước và huyết áp thấp với những triệu chứng sau:


- Yếu hoặc cảm thấy mệt


- Hoa mắt, chóng mặt


- Hôn mê


- Dễ bị kích thích


- Bồn chồn hoặc khó tập trung


- Đau đầu


Nếu huyết áp thấp quá mức, những cơ quan trong cơ thể không được cung cấp đủ máu nuôi để thực hiện những chức năng bình thường của chúng. Đây là một tình trạng rất nguy hiểm được gọi là sốc giảm thể tích.


Những triệu chứng của viêm tụy mạn


Đau thường ít gặp hơn trong viêm tụy mãn.


Một số bệnh nhân cảm thấy đau nhưng hầu hết sẽ không bị. Ở những bệnh nhân có triệu chứng đau, cơn đau thường âm ỉ, kéo dài, tuy nhiên, đau thường mất đi khi bệnh trở nên nặng hơn. Sự biến mất của cơn đau là một dấu hiệu xấu vì nó có thể đồng nghĩa với việc  tụy đã ngừng hoạt động.


Một số triệu chứng khác trong viêm tụy mạn là do những biến chứng lâu dài của nó, chẳng hạn như:


- Không sản xuất insulin (đái tháo đường)


- Không có khả năng tiêu hóa thức ăn (giảm cân và thiếu chất dinh dưỡng)


- Chảy máu (công thức máu cho giá trị thấp, hoặc thiếu máu)


- Tổn thương gan (vàng da)


Khi nào cần đi khám bệnh


Trong hầu hết các trường hợp đau và nôn xuất hiện cùng với viêm tụy là triệu chứng đủ nặng để khiến bạn đi khám bệnh. Khi gặp bất kỳ triệu chứng nào sau đây, bạn nên đi khám bác sĩ càng sớm càng tốt:


- Không uống thuốc, uống nước và ăn được do buồn nôn hoặc nôn.


- Đau bụng dữ dội không giảm với những thuốc giảm đau thông thường


- Khó thở


- Đau kèm theo sốt và ớn lạnh, nôn kéo dài, hoa mắt, chóng mặt, hoặc mệt mỏi.


- Đau kèm với những vấn đề về sức khỏe khác, chẳng hạn như có thai.


Bác sĩ có thể sẽ khuyên bệnh nhân đến phòng cấp cứu ở bệnh viện. Nếu bệnh nhân không thể liên lạc được với bác sĩ hoặc triệu chứng trở nên nặng hơn sau khi khám bệnh, cần phải đến phòng cấp cứu ngay lập tức.



Triệu chứng của viêm tụy

Bệnh viêm tụy cấp và những điều cần biết

Viêm tụy cấp (acute pancreatitis) là tình trạng viêm đột ngột của tuyến tụy. Biểu hiện có thể nhẹ nhàng nhưng cũng có thể nặng nề với đáp ứng viêm hệ thống, rối loạn chức năng đa cơ quan và đe dọa mạng sống.viem tuy cap


Viêm tụy cấp là gì?


Viêm tụy cấp (acute pancreatitis) là tình trạng viêm đột ngột của tuyến tụy. Biểu hiện có thể nhẹ nhàng nhưng cũng có thể nặng nề với đáp ứng viêm hệ thống, rối loạn chức năng đa cơ quan và đe dọa mạng sống.


Ở các nước phương Tây, sỏi mật và lạm dụng rượu là nguyên nhân của 80% các trường hợp viêm tụy cấp phải nhập viện. Ở Việt nam, ngoài nguyên nhân kinh điển như trên thì còn có một nguyên nhân quan trọng khác là do giun chui ống mật-tụy. Viêm tụy cấp do sỏi mật thường gặp ở phụ nữ nhiều hơn nam giới. Liệu viêm tụy cấp có ảnh hưởng gì đến những bệnh lý mạn tính liên quan đến sau này (như đái tháo đường) hay không vẫn chưa xác định chắc chắn.


Nguyên nhân gây bệnh


- Sỏi mật


- Lạm dụng thức uống có cồn


- Giun chui ống mật-tụy


- Các thuốc như furosemide và azathioprine


- Sử dụng estrogen


- Hội chứng cường giáp và tăng nồng độ canxi trong máu


- Quai bị


- Hội chứng tăng lipid máu (nhất là tăng triglyceride)


- Tổn thương tụy do phẫu thuật ổ bụng hoặc nội soi


- Tổn thương tụy do vết thương đâm thấu hoặc chấn thương do vật tù (đấm, đá, tai nạn giao thông)


- Ung thư tuyến tụy


- Giảm tưới máu trầm trọng (sốc kéo dài)


- Viêm tụy di truyền


- Ghép thận


Sinh lý bệnh


Bình thường tụy ngoại tiết bài tiết dịch tụy, dịch này theo ống tụy (ống Wirsung) đổ vào tá tràng. Dịch tụy chứa các enzyme tiêu hóa có khả năng tiêu hủy chỉnh cả tụy. Tụy có một số các cơ chế nhằm tránh hiện tượng tự tiêu này.


Đầu tiên các protein được chuyển thành dạng tiền enzyme được dự trữ ở những ngăn đặc biệt nhờ bộ máy Golgi. Dịch tụy được bài tiết dưới dạng bị bất hoạt. Trên đường từ ống tụy đổ vào tá tràng và khi vào tá tràng, các enzyme tiêu hóa này được hoạt hóa.


Tắc nghẽn đường lưu thông dịch tụy do viên sỏi từ đường mật rơi xuống (vị trí thường ở cơ vòng Oddi) hoặc do giun từ ruột chui ngược lên sẽ làm ứ đọng dịch trong lòng ống tụy. Nếu tắc nghẽn tạm thời thì tổn thương thường giới hạn và được phục hồi nhanh nhưng nếu tắc nghẽn kéo dài thì các enzyme được hoạt hóa này sẽ tích tụ ngày càng nhiều trong tụy nhiều hơn chất ức chế.


Lượng enzyme được hoạt hóa sẽ tấn công làm tổn thương và gây viêm tụy nặng nề. Các chất hóa học giải phóng ra trong quá trình hoạt hóa này có tác dụng như các chất hóa ứng động gây tụ tập các tế bào viêm.


Các bạch cầu trung tính được hoạt hóa sẽ làm nặng nề hơn tình trạng tổn thương do bài xuất các superoxide và các enzyme tiêu protein (cathepsin B, D và G; collagenase, elastase. Cuối cùng, đại thực bào sẽ bài tiết các cytokine gây nên viêm tại chỗ cũng như hội chứng đáp ứng viêm hệ thốngtrong trường hợp nặng. Các cytokine tham gia sớm vào quá trình này là TNF alpha, interleukin-6và interleukin-8.


Việc dùng các thức uống chứa cồn lượng nhiều, liên tục và kéo dài sẽ làm cho các ống tụy nhỏ bên trong tụy trở nên hẹp hơn và có thể bít tắt gây nên viêm tụy. Cơn viêm tụy cấp có thể xuất hiện sau một lần dùng cồn quá nhiều hoặc sau một bữa ăn thịnh soạn.


Triệu chứng


Đau là dấu hiệu đặc trưng gợi ý nhất. Hầu hết bệnh nhân viêm tụy cấp đều có đau bụng dữ dội vùng thượng vị, dưới mũi kiếm xương ức. Đan thường lan ra sau. Hiếm gặp hơn, đôi khi đau xuất hiện ở vùng hạ vị. Nếu viêm tụy cấp do sỏi mật hoặc do giun thì đau thường xuất hiện đột ngột và nhanh chóng đạt đến cường độ dữ dội chỉ trong vòng vài phút. Đau có thể tồn tại liên tục trong vòng vài ngày.


Ho, cử động mạnh, thở sâu đều làm tăng đau. Tư thế ngồi xổm hoặc nằm phủ phục (tư thế Hồi giáo) có thể giảm đau phần nào. Thể trạng bệnh nhân có thể thay đổi rõ trong viêm tụy cấp.


Các dấu hiệu khác đi kèm gồm:


Sưng và tăng cảm giác đau thành bụng


Buồn nôn


Nôn mửa


Sốt


Mạch nhanh


Trong các trường hợp nặng, bệnh nhân có thể biểu hiện mất nước và hạ huyết áp. Các cơ quan như tim, phổi, thận có thể bị rối loạn chức năng. Nếu xuất hiện chảy máu trong tụy (thể hoại tử xuất huyết) thì bệnh nhân dễ rơi vào sốc vào đôi khi tử vong [3].


Biến chứng


Tổn thương tụy cấp có thể tạo điều kiện cho các enzyme hoạt hóa và các chất độc như cytokinetràn ra ngoài tụy và đổ vào ổ bụng. Tại đây chúng gây nên những kích thích và gây viêm lớp màng lót của ổ bụng (viêm phúc mạc) hay các cơ quan. Enzyme hoạt hóa và các cytokine cũng có thể được hấp thu từ ổ bụng vào mạch bạch huyết và sau đó vào máu gây nên hạ huyết áp và tổn thương các cơ quan bên ngoài ổ bụng như phổi. Phần bài tiết insulin của tụy thường ít bị tổn thương.


Các biến chứng thường gặp bao gồm:


1.Giảm thể tích máu


2. Hoại tử tụy


3. Nang giả tụy


4. Suy  hô hấp cấp


5. Suy thận cấp


6. Liệt ruột cơ năng


7. Sock nhiễm độc


8. Nhiễm trùng huyết …


Chẩn đoán


Mặc dù dấu hiệu lâm sàng có giá trị gợi ý nhưng chẩn đoán xác định không thể dựa vào lâm sàng vì thường hay nhầm lẫn với các bệnh lý khác.


Khám lâm sàng


Hỏi bệnh có thể xác định các yếu tố nguy cơ gây viêm tụy ở trên. Khám có thể phát hiện vị trí đau ở đầu tụy hay đuôi tụy. Khám cũng nhằm phát hiện các biến chứng của viêm tụy cấp.


Xét nghiệm


Không có một xét nghiệm máu nào đặc hiệu cho chẩn đoán viêm tụy cấp, tuy nhiên kết hợp các xét nghiệm này sẽ nâng cao giá trị của từng xét nghiệm.


- Amylase: nồng độ amylase huyết thanh ở bệnh nhân viêm tụy cấp thay đổi theo mức độ tổn thương tụy tuy nhiên không có sự tương quan chặt chẽ lắm. Thường nồng độ amylase huyết thanh bắt đầu tăng 12 giờ sau khi có triệu chứng đầu tiên và đạt đến nồng độ cao nhất sau khoảng 12 đến 72 giờ. Tuy nhiên một số bệnh lý không viêm tụy khác cũng có thể làm tăng men này.


- Lipase: Bắt đầu tăng khoảng từ 4 đến 8 giờ sau khi xuất hiện triệu chứng và đạt đỉnh sau 24 giờ. Lipase giảm dần trong khoảng từ 8 đến 12 ngày.


- Trypsin/Elastase: Có thể được xem là xét nghiệm huyết thanh chính xác nhất trong chẩn đoán viêm tụy cấp.


- Chụp X quang không chuẩn bị: thường ít có giá trị và ít khi dùng.


- Siêu âm: Là một xét nghiệm sử dụng rộng rãi và cũng có độ tin cậy khá cao nếu tay nghề người là siêu âm tốt. Tuy nhiên trong trường hợp bụng chướng hơi, siêu âm rất khó khảo sát tụy.


- Chụp cắt lớp vi tính (CT): là phương pháp rất có giá trị hiện nay, đặc biệt là chụp có cản quang.


Điều trị


- Biện pháp làm giảm tiết dịch tụy, hạn chế tổn thương tiếp diễn: đặt ống thông mũi-dạ dày hút liên tục hoặc ngắt quãng, sử dụng các thuốc như ức chế receptor H2, atropine, glucagon, somatostatin, calcitonin.


- Ngăn ngừa bội nhiễm: dùng một trong các kháng sinh ampicillin, cefuroxxime, ceftazidime kết hợp với amikacine và metronidazole.


- Truyền huyết tương tươi đông lạnh để ức chế protease


- Nuôi ăn hoàn toàn bằng đường tĩnh mạch: cũng nhằm hạn chế bài tiết dịch tụy.


- Rửa ổ phúc mạc để loại bỏ chất độc.


- Điều trị các biến chứng: chủ yếu là điều trị nâng đỡ.


Tiên lượng


Trong viêm tụy cấp thể nặng, chụp CT có thể giúp ích cho tiên lượng chính xác. Nếu trên hình ảnh CT, tụy chỉ bị phù nề thì tiên lượng rất tốt. Tuy nhiên nếu có hình ảnh hoại tử lan tỏa thì tiên lượng rất dè dặt.


Trong viêm tụy mức độ nhẹ, tử vong chỉ vào khoảng 5%. Nhưng nếu viêm tụy cấp kèm với xuất huyết và hoại tử nhiều hoặc có hội chứng đáp ứng viêm hệ thống thì tử vong có thể lên đến 10-50% [7]. Trong những ngày đầu, tử vong thường do suy chức năng các cơ quan như tim, phổi, thận. Tử vong sau tuần đầu tiê


 



Bệnh viêm tụy cấp và những điều cần biết

Điều trị viêm tụy mạn

Điều trị viêm tụy mạn


Trong viêm tụy mạn, điều trị chú ý vào giảm đau và tránh làm nặng thêm tình trạng của tụy. Những điều trị khác giúp làm tăng khả năng ăn và tiêu hóa của bệnh nhân.viem tuy man


- Trừ phi có những biến chứng nặng hoặc trải qua những giai đoạn nguy kịch, nếu không, bệnh nhân có thể không cần phải ở lại bệnh viện.


- Thuốc giảm đau trong trường hợp đau nặng.


- Chế độ ăn giàu carbonhydrate it béo và chia nhỏ bữa ăn thành nhiều lần có thể ngăn không cho tình trạng của tụy tiến triển xấu đi. Nếu bệnh nhân cảm thấy rắc rối khi thực hiện chế độ ăn này, các enzyme tụy sẽ được cung cấp cho bệnh nhân dưới dạng thuốc viên để giúp tiêu hóa thức ăn.


- Bệnh nhân được chẩn đoán viêm tụy mãn sẽ được đề nghị ngưng uống rượu hoàn toàn.


- Nếu tụy không sản xuất đủ insulin để điều hòa lượng đường trong máu, có thể cần phải sử dụng đến insulin theo đường chích.


Phẫu thuật


Nếu nguyên nhân của viêm tụy là do sỏi mật, có thể cần phải phẫu thuật đề cắt túi mật và lấy sỏi ra ngoài.


Nếu xuất hiện những biến chứng (tổn thương tụy lan rộng, chảy máu, nang giả tụy, hoặc áp xe), cần phải phẫu thuật để dẫn lưu, sữa chữa hoặc lấy đi những mô bị ảnh hưởng.


Phòng ngừa và tiên lượng


Những khuyến cáo sau đây có thể giúp phòng ngừa những đợt cấp kế tiếp hoặc làm cho tình trạng không trở nên nặng hơn:


- Không uống những chất có cồn


- Chia bữa ăn thành nhiều bữa nhỏ. Nếu cảm thấy đợt cấp sắp quay lại, tránh không ăn những thức ăn đặc trong vài ngày để tụy có thời gian lành lại.


- Chế độ ăn có nhiều carbonhyrate và ít chất béo.


Phòng ngừa


Không uống rượu bia hoàn toàn là cách duy nhất để giảm nguy cơ bị những cơn viêm tụy mới, ngăn không cho tụy bị viêm nặng hơn và ngăn không cho biết chứng tiến triển có thể rất nặng hoặc thậm chí là gây nguy cơ tử vong.


Tiên lượng


Hầu hết những bệnh nhân viêm tụy cấp có thể hồi phục hoàn toàn. Tụy sẽ hoạt động lại bình thường mà không để lại những biến chứng lâu dài. Tuy nhiên, nếu nguyên nhân không được loại trừ thì viêm tụy có thể tái phát.


5% – 10% bệnh nhân có thể bị viêm tụy nặng ảnh hưởng đến tính mạng và có thể để lại những biến chứng sau hoặc thậm chí là tử vong vì chúng:


- Suy thận


- Khó thở


- Đái tháo đường


- Tổn thương não


Viêm tụy mạn không khỏi hoàn toàn giữa các cơn. Mặc dù các triệu chứng tương tự như viêm tụy cấp nhưng mức độ nghiêm trọng của viêm tụy mạn thì lại cao hơn do những tổn thương của tụy vẫn tiếp tục tiến triển. Những tổn thương tiến triển của tụy có thể dẫn đến những biến chứng sau:


- Chảy máu trong hoặc xung quanh tụy: viêm đang tiến triển và những tổn thương các mạch máu xung quanh tụy có thể dẫn đến chảy máu. Chảy máu nhanh có thể gây nguy hiểm cho tính mạng. Chảy máu rỉ rả thường dẫn đến giảm số lượng các tế bào máu (thiếu máu).


- Nhiễm trùng: hiện tượng viêm tiếp diễn có thể làm mô bị tổn thương bị nhiễm trùng. Nhiễm trùng có thể tạo thành ổ áp xe và rất khó điều trị nếu không phẫu thuật.


- Nang giả tụy: những túi nhỏ chứa đầy dịch có thể hình thành bên trong tụy. Những túi này có thể bị nhiễm trùng hoặc vỡ vào trong khoang bụng dưới gây nên một tình trạng nhiễm trùng nặng được gọi là viêm phúc mạc.


- Bệnh lý về đường hô hấp: những chất hóa học thay đổi trong cơ thể có thể ảnh hưởng đến phổi làm giảm lượng oxy mà phổi có thể hấp thu được từ không khí mà người bệnh hít vào. Nồng độ oxy trong máu giảm xuống thấp hơn bình thường (giảm oxy máu).


- Suy tụy: Tụy có thể bị tổn thương nặng đến mức có thể mất đi những chức năng bình thường của chúng. Sự tiêu hóa thức ăn và sự điều chỉnh nồng độ đường trong máu – vốn là những chức năng quan trọng của tụy – có thể bị ảnh hưởng. Đái tháo đường và sụt cân là kết quả rất thường gặp.


- Ung thư tụy: Viêm tụy mạn tính có thể thúc đẩy sự phát triển của những tế báo bất thường bên trong tụy và có thể trở thành ung thư. Tiên lượng của ung thư tụy rất xấu.



Điều trị viêm tụy mạn

Điều trị viêm tụy cấp

Điều trị viêm tụy cấp


Trong viêm tụy cấp, việc lựa chọn điều trị được dựa vào độ nặng của cơn bệnh. Nếu không có biến chứng, điều trị thường nhằm làm giảm triệu chứng và nâng cao thể trạng để tụy có thể hồi phục lại .dieu tri viem tuy cap


- Hầu hết những bệnh nhân đang trong cơn viêm tụy cấp được đề nghị nhập viện


- Những bệnh nhân khó thở sẽ được cho thở oxy


- Lập đường truyền tĩnh mạch, thường ở cẳng tay để có thể truyền thuốc và dịch qua đường này. Dịch được cung cấp để bù vào lượng nước đã mất do nôn hoặc bệnh nhân không uống nước được. giúp bệnh nhân cảm thấy khỏe hơn.


- Nếu cần thiết, bệnh nhân sẽ được cho thuốc chống nôn và giảm đau.


- Kháng sinh được sử dụng nếu bác sĩ nghi ngờ có nhiễm trùng.


- Không được ăn hay uống bằng đường miệng trong vòng vài ngày để cho ruột có thời gian được nghỉ ngơi. Bằng cách này, ống tiêu hóa và tụy sẽ có cơ hội để bắt đầu hồi phục.


- Một số bệnh nhân sẽ cần phải sử dụng ống sond mũi-dạ dày. Ống sond mũi-dạ dày là một ống nhựa dẻo được đặt xuyên qua mũi để đi xuống dạ dày để hút dịch dạ dày ra ngoài giúp ruột có thể nghỉ ngơi và tụy có thời gian hồi phục.


- Nếu cơn đau kéo dài hơn vài ngày, thức ăn có thể sẽ được cung cấp qua đường tĩnh mạch.


 



Điều trị viêm tụy cấp

Bệnh viêm tụy là gì?

Bệnh viêm tụy dùng để chỉ tình trạng viêm của tụy. Tụy nằm ở phần bụng trên, sau dạ dày, có vai trò quan trọng trong tiêu hóa. Tụy là một tuyến tiết ra hai loại chất chính: dịch tiêu hóa và hormon tiêu hóa.


- Dịch tiêu hóa bao gồm enzyme và bicarbonate. Chúng đi qua ống tụy để vào tá tràng.viem tuy


+ Ở đây, các enzyme cắt protein và chất béo trong thức ăn thành nh ững phần nhỏ hơn giúp cơ thể có thể hấp thu được.


+ Bicarbonate giúp trung hòa acid của dạ dày.


- Hormon tiêu hóa chủ yếu bao gồm insulin và glucagon. Chúng được tiết vào máu để điều khiển lượng đường trong máu (là nguồn cung cấp năng lượng chính cho cơ thể).


Viêm tụy do nhiều nguyên nhân khác nhau. Khi tuyến tụy bị viêm, bệnh có thể biểu hiện thành sưng các ống tuyến và những mạch máu xung quanh, có thể chảy máu, nhiễm trùng và làm tổn thương tụy. Ở đây, dịch tiêu hóa bị giữ lại và làm “tiêu hóa” luôn cả tụy. Nếu tình trạng này kéo dài, tụy sẽ không còn khả năng thực hiện những chức năng bình thường của nó nữa.


Viêm tụy có thể cấp tính hoặc mãn tính. Cả 2 loại đều rất nặng và có thể nguy hiểm đến tính mạng, và đều có thể gây ra những biến chứng nặng.


- Viêm tụy cấp thường khởi phát sớm sau một tổn thương tụy. Cơn viêm tụy này thường nhẹ nhưng có 20% trường hợp có thể rất nặng. Bệnh thường diễn ra trong một thời gian ngắn và thường hồi phục hoàn toàn và tụy trở về trạng thái bình thường. Một số người chỉ bị một cơn viêm tụy cấp nhưng cũng những người bị trên 1 cơn viêm tụy nhưng tụy luôn trở về tình trạng bình thường.


- Viêm tụy mạn bắt đầu tương tự như việm tụy cấp. Nếu tụy bị hóa sẹo trong đợt cấp thì nó sẽ không thể trở về trạng thái bình thường được. Tổn thương tiếp tục tiến triển và xấu dần đi theo thời gian.


Mỗi năm, tại Mỹ có khoảng 80.000 trường hợp viêm tụy cấp. Viêm tụy xuất hiện ở mọi lứa tuổi tuy nhiên rất hiếm gặp ở trẻ em. Viêm tụy xuất hiện ở phụ nữ và nam giới, tuy nhiên viêm tụy mạn thường gặp ở nam nhiều hơn nữ.


Nguyên nhân gây bệnh


Nghiện rượu và sỏi mật là hai nguyên nhân chính gây viêm tụy, chiếm khoảng 80 – 90% các trường hợp.


- Viêm tụy do rượu thường xuất hiện ở những bệnh nhân uống rượu trong một thời gian dài, ít nhất từ 5 đến 7 năm. Hầu hết những trường hợp viêm tụy mãn đều do nghiện rượu. Thông thường tụy đã trở nên viêm mạn tính khi bệnh nhân đến khám bệnh lần đầu (thường lý do đến khám là vì một cơn đau dữ dội).


- Sỏi mật thường được tạo ra từ những chất có trong túi mật, hoặc do những cơ quan khác trong ổ bụng. Sỏi mật có thể làm tắc nghẽn ống tụy làm dịch tụy không thể thoát ra khỏi ống tụy. Viêm tụy do sỏi mật thường gặp ở phụ nữ trên 50 tuổi.


Ngoài ra, 10% – 20% trường hợp viêm tụy còn lại là do những nguyên sau:


- Thuốc


- Tiếp xúc với một số hóa chất


- Tổn thương (chấn thương) do tai nạn xe hoặc té ngã gây chấn thương bụng


- Những bệnh lý di truyền


- Phẫu thuật và một số thủ thuật ngoại khoa


- Bệnh nhiễm trùng, chẳng hạn như sởi (ít gặp)


- Dị dạng tụy hay ruột


- Mỡ trong máu cao


Có khoảng 15% trường hợp viêm tụy cấp và 40% trường hợp viêm tụy mãn không biết rõ nguyên nhân.


Triệu chứng


Những triệu chứng của viêm tụy cấp


- Đau là triệu chứng thường gặp nhất của viêm tụy cấp. Hầu như người nào bị viêm tụy cấp cũng đều có triệu chứng này.


+ Đau có thể xuất hiện đột ngột hoặc từ từ tăng dần. Nếu đau xuất hiện đột ngột, đó là một dấu hiệu thường gặp trong cách trường hợp nặng. Nếu đau diễn tiến từ từ, bệnh có thể khởi đầu nhẹ nhưng cũng có thể trở nên nặng.


+ Đau thường tập trung ở nửa bụng trên hoặc vùng bụng trên bên trái. Đau có thể lan ra sau lưng


+ Đau thường kéo dài trong vài ngày.


+ Đau thường xuất hiện hoặc nặng hơn khi ăn.


+ Đau tăng lên khi nằm ngửa.


Những người bị viêm tụy cấp có thể cảm thấy mệt mỏi. Bên cạnh triệu chứng đau, bệnh nhân còn có thể có những triệu chứng khác như:


+ Buồn nôn (một số người có thể nôn ra ngoài nhưng sau đó vẫn không làm giảm cảm giác buồn nôn)


+ Sốt , ớn lạnh, hoặc cả hai.


+ Bụng chướng và nhạy cảm khi chạm.


+ Nhịp tim nhanh (có thể do đau hoặc sốt, cũng có thể do phản xạ bù trừ khi bệnh nhân bị xuất huyết nội).


Trong những trường hợp nặng có nhiễm trùng hoặc chảy máu, bệnh nhân có thể bị mất nước và huyết áp thấp với những triệu chứng sau:


+ Yếu hoặc cảm thấy mệt


+ Hoa mắt, chóng mặt


+ Hôn mê


+ Dễ bị kích thích


+ Bồn chồn hoặc khó tập trung


+ Đau đầu


Nếu huyết áp thấp quá mức, những cơ quan trong cơ thể không được cung cấp đủ máu nuôi để thực hiện những chức năng bình thường của chúng. Đây là một tình trạng rất nguy hiểm được gọi là sốc giảm thể tích.


Những triệu chứng của viêm tụy mạn


Đau thường ít gặp hơn trong viêm tụy mãn.


Một số bệnh nhân cảm thấy đau nhưng hầu hết sẽ không bị. Ở những bệnh nhân có triệu chứng đau, cơn đau thường âm ỉ, kéo dài, tuy nhiên, đau thường mất đi khi bệnh trở nên nặng hơn. Sự biến mất của cơn đau là một dấu hiệu xấu vì nó có thể đồng nghĩa với việc  tụy đã ngừng hoạt động.


Một số triệu chứng khác trong viêm tụy mạn là do những biến chứng lâu dài của nó, chẳng hạn như:


+ Không sản xuất insulin (đái tháo đường)


+ Không có khả năng tiêu hóa thức ăn (giảm cân và thiếu chất dinh dưỡng)


+ Chảy máu (công thức máu cho giá trị thấp, hoặc thiếu máu)


+ Tổn thương gan (vàng da)


Khi nào cần đi khám bệnh


Trong hầu hết các trường hợp đau và nôn xuất hiện cùng với viêm tụy là triệu chứng đủ nặng để khiến bạn đi khám bệnh. Khi gặp bất kỳ triệu chứng nào sau đây, bạn nên đi khám bác sĩ càng sớm càng tốt:


- Không uống thuốc, uống nước và ăn được do buồn nôn hoặc nôn.


- Đau bụng dữ dội không giảm với những thuốc giảm đau thông thường


- Khó thở


- Đau kèm theo sốt và ớn lạnh, nôn kéo dài, hoa mắt, chóng mặt, hoặc mệt mỏi.


- Đau kèm với những vấn đề về sức khỏe khác, chẳng hạn như có thai.


Bác sĩ có thể sẽ khuyên bệnh nhân đến phòng cấp cứu ở bệnh viện. Nếu bệnh nhân không thể liên lạc được với bác sĩ hoặc triệu chứng trở nên nặng hơn sau khi khám bệnh, cần phải đến phòng cấp cứu ngay lập tức.


Khám và xét nghiệm


Khi các bác sĩ nghi ngờ bạn bị viêm tụy, bạn sẽ được hỏi những câu hỏi về triệu chứng của mình, lối sống và thói quen cùng với tiền sử bệnh và tiền sử các phẫu thuật mà bạn đã trải qua. Dựa trên những câu trả lời của bạn và kết quả khám lâm sàng sẽ giúp bác sĩ loại trừ những bệnh lý khác và chú ý đến chẩn đoán chính xác nhất.


Hầu hết các trường hợp cần phải làm các xét nghiệm. Những xét nghiệm nhằm kiểm tra những khả năng khác nhau, bao gồm:


- Chức năng tụy, gan và thận (gồm nồng độ amylase tụy và lipase)


- Dấu hiệu của nhiễm trùng


- Công thức máu đánh giá dấu hiệu thiếu máu.


- Xét nghiệm có thai


- Đường huyết, ion đồ (mất cân bằng ở chỉ số này gợi ý tình trạng mất nước) và nồng độ canci


Kết quả các xét nghiệm máu có thể không giúp được cho chẩn đoán nếu tụy vẫn tiết ra dịch tụy và insulin


Chẩn đoán hình ảnh cần thiết để kiểm ra những biến chứng của viêm tụy trong đó có sỏi mật:


- X –quang được đề nghị để tìm những biến chứng của viêm tụy cũng như những nguyên nhân khác gây ra sự khó chịu cho bệnh nhân.


- CT scan tương tự như x quang nhưng cho nhiều chi tiết hơn. CT scan có thể thấy được hình ảnh tụy và những biến chứng có thể xảy ra của viêm tụy ở mức độ chi tiết hơn so với phim X – quang.CT scan có thể làm nổi bật được hình ảnh viêm hoặc sự phá hủy của tụy.


- Siêu âm là phương pháp rất tốt để kiểm tra túi mật, ống dẫn mật, gan tụy và ruột non.


+ Phương pháp này cho thấy rõ những bất thường của hệ mật gồm sỏi và những dấu hiệu của viêm hoặc nhiễm trùng.


+ Siêu âm dùng những sóng âm không gây đau để tạo nên những hình ảnh của các cơ quan trong cơ thể bằng cách dùng một đầu dò trượt trên bụng bệnh nhân.


Đầu dò sẽ phát ra sóng âm và sẽ được phản hồi lại khi gặp những cơ quan khác nhau trong ổ bụng, sau đó những tín hiệu phản hồi sẽ được máy vi tính xử lý để cho ra hình ảnh. Phương pháp này cũng được dùng để khảo sát tình trạng thai nhi ở các thai phụ.


- Nội soi mật tụy ngược dòng (Endoscopy retrograde cholangiopancreatography – ERCP) là một phương pháp hình ảnh học sử dụng một ống nội soi (một ống mỏng, dẻo với camera nhỏ ở đầu) để khảo sát tụy và những cấu trúc xung quanh.


+ ERCP thường được sử dụng trong những trường hợp viêm tụy mạn tính hoặc trong trường hợp viêm tụy do sỏi túi mật.


+ Để thực hiện ERCP, đầu tiên bệnh nhân sẽ được cho an thần. Sau khi dùng thuốc an thần, một ống nội soi được đưa vào miệng qua dạ dày xuống ruột non.


Sau đó thuốc cản quang sẽ được bơm vào các ống nối gan, túi mật và tụy với nhau (ống mật). Chất cản quang giúp cho bác sĩ thấy dễ dàng sỏi hoặc những dấu hiệu tổn thương của các cơ quan. Trong một số trường hợp, sỏi có thể được lấy ra trong lúc nội soi.


Điều trị


Chăm sóc tại nhà


Trong hầu hết các trường hợp, tự điều trị tại nhà không đủ để chữa khỏi viêm tụy. Bệnh nhân có thể có những biện pháp tự điều trị để giúp mình cảm thấy đỡ hơn trong những đợt cấp nhưng hầu hết bệnh nhân đều có thể tiếp tục bị những đợt cấp kế tiếp cho đến khi những nguyên nhân thật sự gây ra những triệu chứng trên được điều trị một cách thích đáng. Nếu triệu chứng nhẹ, bạn có thể theo những phương pháp phòng ngừa sau:


- Ngưng tất cả các chất có cồn như rượu, bia


- Tránh những thức ăn có nhiều dầu mỡ, sữa bò, phô mai. Những thức ăn này có thể làm quá trình viêm tiến triển nặng hơn.


- Sử dụng những thuốc giảm đau thông thường không cần kê toa.


Thuốc


Thuốc thường được tập trung dùng để làm giảm nhẹ các triệu chứng và phòng ngừa tình trạng xấu đi của tụy. Một số biến chứng của cả viêm tụy cấp lẫn mạn đều có thể cần phải phẫu thuật hoặc truyền máu.


 



Bệnh viêm tụy là gì?

Hỏi về hiện tượng da bị đỏ, mẩn ngứa ở vùng trán và hai má

Thưa bác sĩ, trên trán và trên má em nổi những hột li ti, rất ngứa và mỗi khi gãi là nó tróc vảy và hai bên má em đỏ lên như bị dị ứng vậy. Xin BS cho em biết bị bệnh gì vậy, và điều trị như thế nào? Xin cám ơn BS nhiều! (Nguyễn Trường Giang)man ngua


Da bị đỏ, mẩn ngứa, tróc vẩy khi gãi ở vùng trán và hai má theo trong thư bạn mô tả, có thể gặp trong các tình huống sau:


1. Mề đay viêm mạch: các mảng da đỏ, sưng phù, ngứa, xuất hiện sau một số yếu tố nguyên nhân như thức ăn đặc biệt chứa chất lên men, thuốc uống, thay đổi nhiệt độ môi trường… Đây là một dạng của mề đay nhưng có yếu tố viêm của các mạch máu da tại tổn thương. Do đó tổn thương có thể tồn tại rất lâu > 24 giờ, sau đó tự lặn và có thể tái phát lại.


2. Viêm da dị ứng: da đỏ, ngứa, xuất hiện sau khi tiếp xúc mạt bụi nhà, chất tiết từ côn trùng, một số thức ăn… Bệnh có thể tự hết sau khi hết tiếp xúc hoặc tái phát sau khi tiếp xúc lại với tác nhân gây dị ứng.


3. Biểu hiện khởi đầu của một số bệnh nội khoa như Lupus đỏ. Các yếu tố như “xuất hiện lần đầu sau khi uống rượu” chỉ là một sự trùng hợp tình cờ hoặc “tự lặn sau một tuần” thực chất chỉ là do tổn thương thay đổi trong tiến trình bệnh.


Tổn thương tuy đơn giản nhưng có thể ẩn chứa một bệnh gốc tiềm tàng. Do đó tốt nhất là bạn nên đến khám tại các cơ sở chuyên khoa Da Liễu để có thể được chẩn đoán chính xác và điều trị hợp lý kịp thời.



Hỏi về hiện tượng da bị đỏ, mẩn ngứa ở vùng trán và hai má

Coi chừng không đúng thuốc trị ngứa

Xin hỏi có thể dùng thuốc ivermectin để trị bệnh ngứa hay không?


ivermectin


Trước hết, ta cần biết ngứa là một triệu chứng gây khó chịu khi cơ thể bị rối loạn, thậm chí bị bệnh, khi tiếp xúc với một tác nhân nào đó và tác nhân này bắt cơ thể phải có phản ứng tự vệ. Tác nhân có thể bắt nguồn từ bên ngoài (được gọi là nguyên nhân ngoại sinh) tiếp xúc hoặc xâm nhập vào cơ thể như côn trùng (muỗi), ký sinh trùng (chấy, rận, con cái ghẻ, các loại giun sán,…), vi nấm (nấm da, nấm tóc, lang ben,…), các loại hóa chất (xà phòng, dầu gội đầu, kem dưỡng da,…), yếu tố môi trường (phấn hoa, thời tiết như có người trời trở lạnh là bị ngứa), thực phẩm, dược phẩm…


Tác nhân có thể xuất phát từ bên trong cơ thể (gọi là nguyên nhân nội sinh), như bị bệnh gan (tăng sắc tố mật gây vàng da và gây ngứa), bệnh ở da (như chàm, vảy nến…), bệnh tiểu đường… Cơ chế gây ra ngứa là khi có sự tác động, kích thích của 2 loại tác nhân vừa kể, cơ thể sẽ sản sinh rất nhiều histamin. Histamin gắn vào các tế bào ở da, vào đầu tận cùng của các dây thần kinh gây ngứa, có khi là ngứa dữ dội, càng gãi càng ngứa. Vì vậy, để chữa triệu chứng ngứa thông thường người ta dùng thuốc kháng histamin (gọi đầy đủ là thuốc kháng histamin ở thụ thể H1) để vô hiệu hóa histamin sinh ra quá nhiều gây ngứa.


Các thuốc kháng histamin thường dùng là promethazin, alimemazin, clopheniramin, diphenhydramin, loratadin,… Nhưng dùng thuốc kháng histamin chỉ chữa được phần ngọn, khi thuốc hết tác dụng sẽ bị ngứa trở lại. Bởi vậy, như đã kể, ngứa chỉ là triệu chứng của rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra.


Muốn chữa phần gốc, tức là để trị dứt ngứa hoàn toàn, phải tìm được nguyên nhân nội sinh hoặc ngoại sinh gây ngứa đã kể ở trên và loại trừ. Thí dụ như khi bị nhiễm giun như giun chỉ, giun móc, giun lươn thể hiện gây ngứa ngoài da, chỉ khi nào tiệt trừ hết giun thì mới hết ngứa.


Thuốc ivermectin thực chất không dùng để trị ngứa mà là thuốc trị giun chỉ (giun chỉ có tên khoa học là Onchocerca volvulus). Thuốc dùng dạng viên uống, chỉ dùng khi được chẩn đoán mắc giun chỉ (thuốc không dùng để phòng bệnh hoặc trị các loại giun thông thường là giun đũa, giun kim). Như vậy, nếu ivermectin dùng trị ngứa hiệu quả mà bạn nêu trong thư là do người dùng thuốc thực sự mắc bệnh giun chỉ gây nên ngứa và nhờ thuốc diệt hết giun chỉ mà hết ngứa.


Trường hợp của bạn rất cần đi khám ở một cơ sở y tế (đặc biệt là chuyên khoa da liễu) để được chẩn đoán chính xác nguyên nhân gây ra chứng ngứa dai dẳng, khi nguyên nhân ngứa được xác định, bác sĩ sẽ chỉ định đúng thuốc để trị hết ngứa.


Nếu tự ý dùng thuốc theo lời mách bảo của người không thuộc giới chuyên môn, ngứa không trị dứt mà có khi gặp phải phản ứng có hại của thuốc. Ivermectin là thuốc có thể gây tác dụng phụ như gây phù, ói mửa, tiêu chảy, hạ huyết áp tư thế đứng, hại mắt, làm tăng men gan… Uống không đúng thuốc, ngứa không hết mà có khi mang họa do tác dụng phụ.


PGS.TS. Nguyễn Hữu Đức



Coi chừng không đúng thuốc trị ngứa